Vài nét về những tấm hoành phi sắc tứ trong các di tích tại Hội An

Thứ sáu - 11/09/2026 05:14
Hoành phi còn gọi là biển ngạch, bài biển, là một loại hình di sản tư liệu Hán Nôm hiện tồn với số lượng khá lớn ở Hội An. Hoành phi là loại hình nghệ thuật kết hợp giữa thư pháp và hội hoạ, thường được chế tác theo hình thức bảng ngang bằng các chất liệu như gỗ, đồng hoặc đá. Hoành phi vừa mang giá trị về mặt văn hóa, tâm linh vừa có chức năng trang trí, thường hiện diện trong các công trình kiến trúc truyền thống và không gian thờ tự của người Việt.

Xét theo mục đích sử dụng, hoành phi được chia thành hai nhóm chính: hoành phi thờ tự và hoành phi trang trí. Hoành phi thờ tự thường gắn với các không gian tín ngưỡng như đình, chùa, miếu, hội quán, nhà thờ tộc và nơi thờ tự gia tiên. Nội dung chủ yếu là các danh ngôn, mỹ từ nhằm ca ngợi công đức tổ tiên, thần, Phật; đồng thời thể hiện những ước nguyện về bình an, phúc đức và thịnh vượng. Trong khi đó, hoành phi trang trí thường được đặt tại phòng khách hoặc các gian nhà phụ, vừa phát huy giá trị thẩm mỹ của nghệ thuật thư pháp, vừa thể hiện tâm tư, chí hướng, lý tưởng sống hoặc những lời răn dạy của tiền nhân đối với con cháu.

Về nội dung, hoành phi ở Hội An khá đa dạng, thường đề cập đến tộc họ, từ đường, ca ngợi công đức tổ tiên, răn dạy con cháu giữ gìn gia phong, gửi gắm những ước nguyện về sự bình an, thịnh vượng, cũng như tôn vinh công đức của các bậc thánh thần. Bên cạnh những nội dung mang tính gia tộc, tín ngưỡng và giáo huấn, một số hoành phi có giá trị đặc biệt là những bức hoành sắc tứ được triều đình ban thưởng cho các cá nhân, gia đình và dòng họ. Nội dung của các hoành phi sắc tứ nhằm biểu dương những phẩm chất và đóng góp được xã hội đương thời đề cao, chẳng hạn như người cao tuổi có tuổi thọ đặc biệt cao, cá nhân hoặc gia đình có đóng góp tiền bạc cho triều đình, những người có công đức với cộng đồng, hoặc phụ nữ giữ gìn phẩm hạnh, gia phong.


Tấm hoành "Hảo nghĩa khả phong" được ban sắc tứ vào năm Tự Đức thứ 33. Ảnh: Phòng NCKH

Đối với những tấm hoành được triều đình ban tặng dưới hình thức sắc tứ, đây là những hiện vật có giá trị đặc biệt, không chỉ gắn với đời sống tâm linh mà còn chứa đựng nhiều giá trị về lịch sử, văn hoá và tư liệu Hán Nôm. Các hoành phi sắc tứ này là một hình thức ban thưởng, vinh danh của triều đình phong kiến nhà Nguyễn, dành cho những cá nhân, gia đình có công lao, phẩm hạnh hoặc có những đóng góp tích cực cho cộng đồng, thể hiện tinh thần bác ái và nghĩa tình trong đời sống xã hội. Việc ban tặng không chỉ thể hiện sự ghi nhận của triều đình đối với người được vinh danh, mà còn góp phần đề cao và lan tỏa những chuẩn mực đạo đức được xã hội đương thời coi trọng.

Về hình thức, các hoành phi sắc tứ thường có cấu trúc tương đối chặt chẽ, gồm 2 phần chính: đại tự và lạc khoản. Đại tự là phần chữ lớn, thể hiện nội dung, phẩm chất hoặc danh hiệu được triều đình dùng để ban tặng và vinh danh. Phần lạc khoản thường ghi những thông tin liên quan đến niên đại ban tặng, đối tượng được phong tặng, địa chỉ, lý do được vinh danh cùng các thông tin liên quan khác. Sự kết hợp giữa nội dung đại tự và lạc khoản tạo nên một chỉnh thể vừa mang giá trị thẩm mỹ của thư pháp, vừa cung cấp những thông tin quan trọng để nhận diện đối tượng, hoàn cảnh, thời điểm và mục đích ban tặng. Qua đó, hoành phi sắc tứ có thể được xem là nguồn tư liệu có giá trị trong việc nghiên cứu đời sống xã hội, quan niệm đạo đức và chính sách biểu dương của triều Nguyễn tại Hội An.

Tại Hội An, các hoành phi sắc tứ khen thưởng phẩm hạnh và đạo đức xã hội thường có nội dung là “Hảo nghĩa khả phong” và “Hảo nghĩa khả gia”, mang ý nghĩa “Việc nghĩa tốt đẹp đáng được noi theo”. Các hoành phi này hiện đang được lưu giữ tại nhà số 43 Trần Phú và nhà số 22 Nguyễn Thái Học... Đây là những tấm hoành được triều đình ban tặng cho các cá nhân, gia đình nhằm ghi nhận, biểu dương các giá trị đạo đức theo quan niệm Nho giáo. Đối tượng được ban thưởng là những người, gia đình có nhiều đóng góp cho cộng đồng như quyên góp cứu đói, làm thiện nguyện hoặc hỗ trợ triều đình, hoặc có những biểu hiện nổi bật về đạo hiếu, đạo nghĩa và gia phong. Có thể nói, các tấm hoành phi này không chỉ thể hiện sự ghi nhận của triều đình đối với những giá trị đạo đức và hành vi xã hội tích cực, mà còn góp phần khuyến khích, nêu gương những chuẩn mực luân lý được đề cao trong xã hội đương thời.

Về các hoành phi sắc tứ triều Nguyễn ban thưởng, vinh danh cho các bậc nữ lưu xuất chúng, những người phụ nữ thủ tiết thờ chồng, có phẩm chất đạo đức cao đẹp, nuôi con đỗ đạt thành tài thường có nội dung “Tiết hạnh khả phong” (Đức hạnh và khí tiết đáng được noi theo) và “Tiết hạnh danh văn” (Đức hạnh, khí tiết lưu danh muôn đời), như ban tặng “Tiết hạnh khả phong” cho bà Tạ Thị Yên người xã Minh Hương, tổng Phú Triêm huyện Diên Phước phủ Điện Bàn tỉnh Quảng Nam, vào năm Khải Định thứ 4 (1919), hay ban “Tiết hạnh danh văn” cho bà Đặng Thị Vịnh người xã Minh Hương, tổng Phú Triêm, phủ Điện Bàn vào năm Bảo Đại thứ 15 (1940). Đây là sự ghi nhận trang trọng của triều đình dành cho những người phụ nữ giữ trọn đạo lý, phẩm giá, có tiếng tốt về sự nết na, hi sinh, là người giữ trọn nghĩa cử được nhân dân, triều đình kính trọng.

Về hoành phi sắc tứ ban thưởng “Thọ dân”, năm Minh Mạng thứ 4 (1823), triều đình nhà Nguyễn đã bắt đầu có những định lệ ban ơn thưởng thọ cho các quan lại, dân thường được gọi là quan thọ và dân thọ. Theo quy định, đối với những người làm quan 100 tuổi triều đình có một ngạch riêng gọi là “Thọ quan”, đối với dân thường thì “đàn ông thọ 100 tuổi thưởng 30 lạng bạc, vải lụa mỗi thứ 3 tấm, đàn bà thọ 100 tuổi thì thưởng 20 lạng bạc, lụa vải đều 2 tấm, đều được cấp biển treo ở chỗ ở[1]. Chữ biển ngạch thọ quan và sĩ lưu thì tới kỳ tâu xin sắc cho, chữ biển ngạch của dân đàn ông thì khắc hai chữ “Thọ dân”, của đàn bà thì khắc hai chữ “Thọ trinh”. Tại nhà số 10 Nguyễn Thị Minh Khai, hiện còn lưu giữ một tấm hoành phi sơn son thếp vàng đề hai chữ “Thọ dân” được ban sắc tứ cho ông Lý Hữu Luân người xã Minh Hương, tổng Phú Triêm, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam vào năm Bảo Đại thứ 12 (1937). Đây là một trong những chính sách của triều đình thể hiện được sự kính lão, dưỡng lão, với những biểu hiện đặc trưng.

Ngoài nội dung chính về việc ban sắc, niên đại, tên người và quê quán, lý do được ban sắc, thì có sự khác nhau về cách ghi niên đại giữa các đời vua triều Nguyễn, ví như hoành phi được ban sắc tứ thời vua Tự Đức (nhà số 43 Trần Phú) niên đại được ghi bên phải; hoành phi được ban sắc tứ thời vua Khải Định (nhà số 22 Nguyễn Thái Học, nhà số 117 Trần Phú,…) niên đại được ghi bên trái. Đối với hoành phi được ban sắc tứ thời vua Bảo Đại (nhà số 10 Nguyễn Thị Minh Khai, nhà thờ tộc Trương,…), thì niên đại sẽ được khắc hàng ngang phía trên nội dung ban sắc, còn bên dưới sẽ ghi tên người, quê quán, và lý do được ban sắc.

Hoành phi đa phần thường được khắc chìm, chạm nổi, sơn son thếp vàng. Lòng hoành phi thường thể hiện nội dung chữ Hán, Nôm. Phần nền thường được để phẳng, trơn nhằm làm nổi bật hệ thống văn tự, góp phần tạo chiều sâu và tăng sự trang trọng cho bức hoành. Với các kỹ thuật chạm chìm các nét chữ Hán trên mặt bảng, từng nét mác, nét phẩy, chấm của chữ thư pháp được nhấn nhá đậm nhạt, tạo nên sự thanh thoát nhẹ nhàng cho tấm hoành. Diềm hoành được làm dày và nhô cao hơn so với phần lòng, thường chạm những đề tài và hoạ tiết mang tính trang trí, như đồ án Lưỡng long chầu nhật, hồi văn, rồng, hoa,…

Những hình tượng và nội dung được thể hiện trên các hoành phi sắc tứ ở Hội An mang nhiều tầng ý nghĩa, phản ánh các phương diện xã hội, đạo đức, cũng như giá trị tâm linh gắn liền với từng đối tượng được vinh danh. Việc lưu giữ và tôn trí những biển ngạch do triều đình ban tặng không chỉ thể hiện sự trân trọng đối với ân điển của nhà vua, mà còn cho thấy vai trò của triều đình trong việc ghi nhận, khuyến khích và định hướng các giá trị đạo đức trong đời sống cộng đồng. Việc được đề danh trên biển ngạch vì thế không đơn thuần là một hình thức khen thưởng, mà còn là sự ghi nhận chính thức đối với những đóng góp, công lao hoặc phẩm hạnh tốt đẹp của cá nhân và gia đình, đồng thời tạo nên một hình thức nêu gương trong cộng đồng cư dân Hội An.

Mặc dù số lượng hoành phi sắc tứ không nhiều, nhưng những hiện vật này có giá trị đặc biệt trên nhiều phương diện. Bên cạnh giá trị thẩm mỹ và nghệ thuật, hoành phi sắc tứ còn phản ánh mối quan hệ giữa triều đình với cộng đồng địa phương, cũng như sự biểu dương và khuyến thiện trong đời sống cư dân Hội An đương thời. Thông qua việc ban tặng và lưu giữ các biển ngạch, những phẩm chất như hiếu nghĩa, đạo đức, lòng nhân ái, sự đóng góp cho cộng đồng và việc gìn giữ gia phong được chính thức ghi nhận và đề cao. Vì vậy, hoành phi sắc tứ không chỉ là những hiện vật trang trí hay tư liệu Hán Nôm, mà còn được xem như biểu dương của danh dự, sự giáo hoá, nêu gương và tôn vinh các giá trị đạo đức trong đời sống xã hội truyền thống của cư dân Hội An.

 
 

[1] Quốc sử quán triều Nguyễn (bản dịch, 2007), Đại Nam thực lục, tập 2, Nxb Giáo dục, tr.257.
 
 

Tác giả: Lê Thị Lưu

Nguồn tin: Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới Hội An

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
liên kết web
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây